Chuyển đến nội dung chính

bài tập tình huống 1 thảo luận chương IV | Luật Lao động

 Tóm tắt bài tập tình huống 1:

Nguyên đơn: ông Lê Minh

Bị đơn: Công ty TNHH W

Theo lời nguyên đơn trình bày:

Việc Công ty TNHH W, nơi ông làm việc với chức danh giám đốc dịch vụ cho ông nghỉ việc với lí do gặp khó khăn kinh tế (vào ngày 2/5/2017) là hành động đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật vì trên thực tế, công ty không hề gặp khó khăn nào về kinh tế, tình hình hoạt động của công ty vẫn bình thường.

Ông yêu cầu khởi kiện buộc bị đơn (tức Công ty TNHH W):

- Tuyên bố việc Công ty quyết định chấm dứt HĐLĐ với ông là trái pháp luật và phải nhận ông trở lại làm việc theo HĐLĐ đã ký.

- Công ty có trách nhiệm thanh toán tiền lương và các chế độ theo quy định cho ông đầy đủ tính đến ngày ông trở lại làm việc và phục hồi mọi quyền lợi và chế độ cho ông như HĐLĐ đã ký từ ngày 2/5/2017 đến ngày xét xử.

- Bồi thường cho ông ít nhất 2 tháng tiền lương theo HĐLĐ.

- Trong trường hợp công ty không nhận ông trở lại làm việc thì ông chỉ đồng ý thỏa thuận chấm dứt HĐLĐ nếu ngoài chế độ theo quy định thì công ty phải hỗ trợ thêm cho ông 18 tháng tiền lương theo mức lương của HĐLĐ.

- Bồi thường cho ông 1 khoản tiền vì lý do công ty chấm dứt HĐ không thông báo trước 45 ngày cho ông.

Theo lời bị đơn trình bày:

Do suy thoái kinh tế và thua lỗ nên trụ sở chính đã thông báo thu hẹp hoạt động sản xuất kinh doanh và sắp xếp lại cơ cấu tổ chức. Theo kế hoạch, nhân sự của công ty W Việt Nam trong giai đoạn sau thu hẹp hoạt động chỉ còn có 4 chức danh: Tổng giám đốc, Kế toán trưởng, Đại diện bán hàng và Kỹ sư dịch vụ. Vì thế, Tổng giám đốc đương nhiệm cũng sẽ bị giảm biên sau ngày 1/9/2017.

Công ty cũng đã làm đầy đủ các thủ tục theo quy định của pháp luật Việt Nam về giải quyết chế độ nghỉ việc cho người lao động. Các chế độ nghỉ việc của NLĐ được công ty thanh toán bằng chuyển khoản vào tài khoản của NLĐ trong tháng 5/2014, trong đó có cả chế độ của ông Lê Minh với số tiền là 727.412.352 đồng sau khi đã trừ thuế thu nhập cá nhân.

Công ty không vi phạm quy định báo trước 45 ngày cho NLĐ vì trên thực tế ngày 7/3/2017, ông Lê Minh có nhận được thông báo chấm dứt HĐLĐ với nội dung “Thỏa thuận chấm dứt HĐLĐ với công ty W VN trong kế hoạch giảm biên”. Đến ngày 3/5/2017, công ty W Việt Nam ra Quyết định chấm HĐLĐ là hơn 45 ngày. Mọi chế độ nghỉ việc cũng như quá trình giải quyết cho NLĐ nghỉ việc Công ty đã tuân thủ đầy đủ các quy định của Pháp luật Việt Nam. Nên việc ông Lê Minh yêu cầu Công ty nhận ông Lê Minh trở lại làm việc là không có cơ sở và không thể thực hiện được.

Bài làm

Với vai trò là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, bạn hãy chuẩn bị bài luận cứ để bảo vệ cho thân chủ của mình.

BẢN LUẬN CỨ

Thứ nhất, về quan hệ pháp luật giữa nguyên đơn và bị đơn:

Ông Minh làm việc tại công ty TNHH W Việt Nam từ ngày 21/7/1999 và đã ký kết HĐLĐ không xác định thời hạn 2009/03-HĐLĐ ngày 3/2/2009 với chức danh là giám đốc dịch vụ. Ngày 1/7/2015 hai bên ký kết phụ lục hợp đồng lao động số 01-07-2015/13-ANEX xác định mức thu nhập của ông Quân là 2.650 USD/tháng bao gồm lương và trợ cấp với chức danh Giám đốc dịch vụ.

Thứ hai, về căn cứ để chấm dứt quan hệ lao động của bị đơn:

Công ty W Việt Nam đã làm thủ tục cho NLĐ nghỉ việc căn cứ vào khoản 10 Điều 36 BLLĐ 2012 “NSDLĐ cho NLĐ thôi việc vì lý do kinh tế”. Điều 36 được Điều 13 nghị định số 05/2015/NĐ-CP điều chỉnh, trong đó quy định các trường hợp vì lý do kinh tế

“a) Khủng hoảng hoặc suy thoái kinh tế;

b) Thực hiện chính sách của Nhà nước khi tái cơ cấu nền kinh tế hoặc thực hiện cam kết quốc tế.”

Công ty W đã không đưa ra chứng cứ để chứng minh tình trạng kinh tế của công ty thuộc một trong hai trường hợp trên. Vì thế, Công ty W cần có trách nhiệm xác minh tình trạng kinh tế của công ty.

Thứ ba, về chức danh giám đốc dịch vụ trong công ty W Việt Nam

Trong thông báo về kế hoạch sắp xếp lại cơ cấu tổ chức của tập đoàn trên toàn cầu trong đó công ty W Việt Nam đã được phổ biến cho toàn thể nhân viên công ty W Việt Nam vào ngày 7/02/2017 thì nhân sự của công ty W Việt Nam trong giai đoạn sau thu hẹp hoạt động chỉ còn có 4 chức danh: Tổng giám đốc, Kế toán trưởng, Đại diện bán hàng và Kỹ sư dịch vụ. Tuy nhiên, theo sơ đồ tổ chức công ty áp dụng từ ngày 3/5/2017, công ty vẫn có chức danh Giám đốc dịch vụ (tức chức danh bị thu hẹp theo kế hoạch được thông báo ngày 7/02/2017). Vì thế, việc công ty chấm dứt hợp đồng lao động với nguyên đơn theo kế hoạch để thu hẹp nhân sự nhưng giữ nguyên chức danh này trong sơ đồ tổ chức công ty là không hợp lý.

Thứ tư, về trình tự thủ tục sau khi cho nhiều người lao động thôi việc của bị đơn:

Theo kế hoạch công ty W phổ biến ngày 7/02/2017 thì công ty sẽ giảm biên nhiều người lao động. Căn cứ khoản 3 Điều 13 Nghị định 05/2015/NĐ-CPkhoản 2 Điều 44 BLLĐ 2012, công ty W phải  xây dựng và thực hiện phương án sử dụng lao động theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này. Theo quy định tại Điều 46 BLLĐ 2012: “Khi xây dựng phương án sử dụng lao động phải có sự tham gia của tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở.”, tôi cho rằng có sai sót về trình tự thủ tục tại đây. Theo khoản 4 Điều 3 BLLĐ 2012, khi công ty không có tổ chức công đoàn thì phải có sự tham gia của Ban chấp hành công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở khi xây dựng phương án sử dụng lao động. Tuy nhiên vào ngày 7/3/2017, Công ty W Việt Nam đã có cuộc họp toàn thể với NLĐ (với lý do công ty không có tổ chức công đoàn). Vì vậy, với trách nhiệm là người sử dụng lao động, công ty W cần trao đổi với Ban chấp hành công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở.

Từ tình hình thực tế, qua 4 nhận định trên, với tư cách người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn là ông Lê Minh, tôi kính đề xuất Hội Đồng xét xử sơ thẩm xem xét áp dụng các điều sau đây:

1.    Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 42 BLLĐ 2012 quy định nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật: “Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết và phải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.”

 

2.    Đề nghị áp dụng khoản 3 Điều 42 BLLĐ 2012 quy định nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật: “Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.”

Trên cơ sở các luận cứ viện dẫn trên, với tư cách luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn, tôi kiến nghị Hội Đồng xét xử chấp nhận yêu cầu phía nguyên đơn để tuyên xác nhận số tiền bồi thường mà bên bị đơn có nghĩa vụ phải trả, bác bỏ yêu cầu của bên bị đơn. Bởi vậy, tôi - người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn là ông Lê Minh khẳng định rằng đây hoàn toàn do lỗi của bên bị đơn và yêu cầu bị đơn là Công ty W Việt Nam phải bồi thường tổng cộng là …đồng cho nguyên đơn. Gồm các khoản như sau:…

Vậy, kính mong được Quý Tòa nghiên cứu chấp nhận các luận cứ và các kiến nghị cụ thể hợp tình, hợp lý và thỏa đáng nói trên, để cho thân chủ tôi được bồi thường thiệt hại và đưa ra một bản án khách quan, chính xác và đúng pháp luật.

Nhận xét